Chi tiết tin - UBND Xã Tuyên Lâm
VĂN BẢN MỚI
Thống kê truy cập
Số lượng và lượt người truy cập
-
Online 2
-
Hôm nay 451
Tổng 643.362
TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ, VĂN HOÁ
Người dân Thanh Hoá thời nào cũng vậy, luôn có truyền thống đoàn kết, anh dũng kiên cường trong kháng chiến; cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất; sống có nghĩa, có tình trong tình làng nghĩa xóm; thông minh, hiếu học, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, Thời kỳ phong kiến, Vua Hàm Nghi kéo quân ra Tân Sở (Quảng Trị) hạ chiếu Cần Vương chống Pháp. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của Vua Hàm Nghi, Nhân dân cả nước - cả tỉnh nói chung, trong huyện - trong xã Thanh Hoá nói riêng đã dấy binh khởi nghĩa giúp vua chống Pháp. Tuy phong trào Cần Vương chống Pháp chỉ tồn tại được 3 năm (1885 - 1888) nhưng nghĩa quân Cần Vương đã làm cho quân Pháp bị tổn thất nặng nề, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của Nhân dân ta.
Dưới chế độ thực dân, phong kiến, người dân Thanh Hoá bị áp bức, bóc lột nặng nề. Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân có kế hoạch đào một hệ thống hầm đường bộ xuyên qua núi dưới đèo Mụ Giạ phục vụ cho tuyến đường sắt từ Tân Ấp tới Thà khẹt đi qua địa bàn xã Thanh Hoá. Sau, do vấn đề ngân sách và kỹ thuật, hầm đường bộ dù đã bắt đầu được thi công phải bỏ dở. Thay vào đó, chính quyền thực dân cho dựng tuyến cáp treo dài 40km (cách gọi cũ là "không trung thiết lộ") chạy từ xóm Cục tới Ba Na Phào (Lào). Bằng tuyến đường sắt Tân Ấp - xóm Cục và tuyến cáp treo xóm Cục - Ba Na Phào, hàng hoá từ Việt Nam được vận chuyển sang Lào và thiếc khai thác ở Thà khẹt được vận chuyển ra các cảng miền Trung. Trong chiến tranh Đông Dương, tuyến cáp treo này đã bị phá huỷ. Thời kỳ này, Nhân dân nơi đây đã chứng kiến cảnh bọn lính Pháp đánh đập, bóc lột sức lao động của các dân phu từ các nơi đến cũng như người địa phương nên đã đứng dậy đấu tranh chống hà hiếp đánh đập, đòi trả tiền công xứng đáng cho người lao động...
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, người dân Thanh Hoá ra sức sản xuất, sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Ở hậu phương, Nhân dân nhường nhà cho bộ đội, TNXP, dân công hoả tuyến ở; đùm bọc che chở cho các đơn vị bộ đội, TNXP đến trú quân; làm tốt nhiệm vụ của hậu phương với tiền tuyến với tinh thần: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”,“Tất cả vì miền Nam, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”... Dân quân du kích anh dũng chiến đấu chống trả máy bay địch bảo vệ quê hương, làng xóm. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, lớp lớp thanh niên Thanh Hoá đã lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tham gia các đội thanh niên dân công hoả tuyến, TNXP phục vục chiến đấu, phục vụ cho các chiến dịch U Bò, Ba Rền, Trung Lào, Trị Thiên... Nhiều người đã chiến đấu không tiếc máu xương và đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đặc biệt, trong kháng chiến chống Mỹ, mảnh đất Thanh Hoá đã sinh ra Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Thiếu tướng Cao Lương Bằng. Ông là người đã có nhiều công lao cống hiến cho quê hương, đất nước. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, tháng 4 năm 1965, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ. Trong chiến đấu và công tác, ông đã lập được nhiều thành tích, chiến công xuất sắc nên đã vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông là một trong những người cán bộ trưởng thành nhanh chóng. Kể từ khi nhập ngũ, sau 3 năm (6/1968) đã là Đại đội trưởng, sau 5 năm (4/1970) là Tiểu đoàn trưởng, sau 21 năm (6/1986) - khi mới 41 tuổi đã là Đại tá - Sư đoàn trưởng, đến 49 tuổi đã là Thiếu tướng...
Sau ngày kết thúc chiến tranh, Cao Lương Bằng được cử đi học đào tạo ở các trường trong quân đội, trở về được bổ nhiệm giữ các cương vị Phó Sư đoàn trưởng rồi Sư đoàn trưởng và Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình, Đại biểu Quốc hội (khoá X).
Khi còn là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình, ông đã đề xuất với tỉnh và các bộ, ngành liên quan ở Trung ương cho mở tuyến đường 15B từ Tân Ấp nối đường Hồ Chí Minh với thị trấn Đồng Lê (có chiều dài gần 30km), dọc theo tuyến đường sắt Bắc Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của Nhân dân...
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và sau ngày hoà bình lập lại, nhiều con em của xã Thanh Hoá đã phấn đấu trưởng thành, làm cán bộ Trung ương, tỉnh, huyện như các đồng chí: Lê Viết Đường (nguyên Phó Ty Thương binh); Trần Thiện Dụ (nguyên Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh); Phạm Văn Đồng (nguyên Chánh Văn phòng Ban Bảo vệ chính trị Trung ương); Nguyễn Hữu Tá (nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Huyện uỷ, Trưởng Ban Tuyên Huấn Huyện uỷ và nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Tuyên Hoá); Đinh Xuân Ngô (nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Huyện uỷ, Chính trị viên Huyện đội Tuyên Hoá); Hoàng Minh Đề (Tỉnh uỷ viên - Bí thư Huyện uỷ Tuyên Hoá); Lê Khánh Hoà (Giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Bình); Nguyễn Tiến Hoa (nguyên Huyện uỷ viên, Chủ tịch Hội Nông dân huyện); Hoàng Quốc Chế (Chủ tịch Mặt trận huyện); Nguyễn Hữu Quỳnh (Bí thư Chi bộ, Trưởng Phòng Quản lý HTX mua bán huyện)... và nhiều đồng chí là cán bộ các ngành cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ trung, cao cấp của công an, quân đội; cán bộ khoa học đang công tác ở mọi miền của đất nước.
Ngôn ngữ của cư dân Thanh Hoá nhìn chung giống với các xã khác trong huyện, chỉ có một số âm điệu và một số từ địa phương có khác nhau, nhưng ngày nay, các từ địa phương ví dụ như “chi, mô, răng, rứa...” đang có xu hướng thay thế dần bởi các từ phổ thông. Tuy nhiên, với người dân xã Thanh Hoá còn có những ngôn từ chỉ được hình thành và sử dụng na ná giống như xã Lâm Hoá liền kề mà nơi khác không có. Như khi viết và nói, người dân nơi đây còn nhầm lẫn giữa dấu sắc với dấu hỏi. Ví dụ khi đọc, hay nói chữ “đảng” lại thành chữ “đáng”... Đặc biệt, bà con dân tộc ít người có tiếng nói riêng, khi họ nói tiếng Kinh, phát âm hơi nặng, khó nghe, khó hiểu.
Về phong tục tập quán ở xã Thanh Hoá cũng như bao làng quê khác trên địa bàn huyện Tuyên Hoá, có những phong tục trong ma chay, cưới hỏi, giỗ, chạp, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ... trong các ngày Tết đều giống nhau, duy chỉ có phong tục tập quán của bà con dân tộc thiểu số là người Mã Liềng ở bản Cà Xen có khác.
Người Mã Liềng có lễ cúng “ma nhà”. Ma nhà của người Mã Liềng đó chính là linh hồn của tổ tiên, của cha ông họ. Đối với người Kinh, thờ ông bà, tổ tiên trong ngày Tết là điều hết sức bình thường nhưng ở người Mã Liềng thì lại khác. Nếu như không tìm hiểu thì ai cũng nghĩ là người Mã Liềng không nhớ những người đã khuất, không nhớ đến ông bà, tổ tiên. Họ không có phong tục cúng, kị hàng năm, nhưng ngày Tết là ngày mà mỗi gia đình trong dân bản đều làm lễ cúng ông bà, tổ tiên mình. Lễ cúng này trước hết là để tưởng nhớ những người đã khuất, sau là để con cháu vui quần sum họp. Lễ vật bắt buộc con cháu đưa đến gia đình bố mẹ là một con gà, mâm xôi, chai rượu và cơm.
Với người Mã Liềng, thiên nhiên là mẹ hiền của muôn loài. Người Mã Liềng tin vào thần thiên nhiên nên việc thờ thần con ong là một nghi lễ đặc biệt, bắt buộc mỗi năm một lần, họ xem con ong là thần thiên nhiên ban phước đến cho họ. Do vậy, khi mùa ong đến, bất cứ gia đình nào mà chưa may mắn được gặp tổ ong, chưa có dịp làm lễ cúng ong, thì nghiễm nhiên gia đình đó chưa thể sử dụng bất cứ sản phẩm nào liên quan đến con ong. Hàng năm, người Mã Liềng đều tổ chức hai lễ cúng "thần rừng", đó là vào đợt Tết cổ truyền và Tết Độc lập (ngày 02 tháng 9). Lễ cúng “thần rừng” đầu tiên được dân bản tổ chức vào ngày 01 tháng 01 âm lịch.
Việc cúng là để cầu mong "thần rừng" phù hộ cho dân bản có một năm mới gặp nhiều may mắn, hạn chế rủi ro, bệnh tật, cầu mong cho mưa thuận, gió hoà, cây trồng, vật nuôi sinh sôi, được mùa. Lễ cúng "thần rừng" lần thứ hai sẽ được tổ chức vào ngày 07 tháng 7 âm lịch của năm (sau này được người Mã Liềng chuyển sang dịp lễ ngày 02 tháng 9).
Lễ cúng này nhằm mục đích cảm tạ "thần rừng" đã mang lại sự an lành, no ấm cho mọi người. Mỗi lễ cúng đều được dân bản chung tay chuẩn bị chu đáo và tất cả các gia đình đều mang lễ vật đến cúng. Ngoài ra, cả bản góp tiền mua một con lợn, vài con gà cùng cơm, rượu, sáp ong, muối mang đến nhà già làng có uy tín nhất bản để tổ chức làm lễ cúng...
Lễ cúng chính là sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng dân gian, gắn với đời sống của đồng bào. Theo quan niệm, "thần rừng" luôn sống cạnh bà con và che chở, phù hộ cho mọi người khoẻ mạnh, làm ăn thuận lợi, mùa màng tươi tốt, thú dữ không vào quấy rối, tấn công con người...
Cũng tại đây, dân bản còn tiến hành cam kết với chính quyền địa phương không chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép, không săn bắt động vật hoang dã, không đốt nương làm rẫy bừa bãi; có trách nhiệm tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng. Đối với đồng bào Mã Liềng, rừng không chỉ gắn liền với đời sống vật chất mà còn gắn liền với đời sống tinh thần, tâm linh. Do đó, việc giữ rừng chính là giữ lấy sự ấm no cho toàn thể cộng đồng.
Người Mã Liềng còn chủ động xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp như trồng lúa nước, ngô, lạc, môn, mướp đắng, mướp ngọt, bí đỏ, dưa chuột, cà tím, bí đao. Người Mã Liềng không xem rừng là thứ tài nguyên để chiếm lĩnh, khai thác... Họ xem rừng như chính ngôi nhà của mình. Họ đã xây dựng nên luật tục, ứng xử văn minh, lịch lãm, trân trọng đối với "Thần rừng"...
Ngày xưa, cứ vào dịp Tết đến, tiếng sáo, tiếng đàn của người Mã Liềng được cất lên, cũng là tiếng lòng hò hẹn của bao đôi trai gái giữa núi rừng. Ngày nay, nó đang dần mai một theo thời gian năm tháng và không còn nữa.
Điều đáng nói ở đây, tộc người Mã Liềng ngày trước và cả bây giờ đời sống quanh năm chật vật với cái ăn, cái mặc. Bởi thế hiếm khi (nếu như không nói là chưa bao giờ) cùng một lúc đàn ông Mã Liềng sắm đủ lễ vật cưới vợ. Thế là làm lễ bỏ của xong, người con trai xin bố mẹ bên cô gái cho phép đến ở rể”...
Điều đặc biệt xưa nay, đàn ông tộc người này lại là người mai mối, đàn bà không được phép làm công việc này. Người con trai Mã Liềng muốn lấy vợ, trước hết phải có lễ bỏ của gồm rượu, cau trầu, áo quần cho bố mẹ cô gái. Ngày cưới chỉ được xác định khi nhà nam đã chuẩn bị đủ lễ vật...
Trong văn học dân gian, các nhóm Chứt (tộc người Mã Liềng...) có chung một số làn điệu dân ca đối đáp, giao duyên, liên quan đến nguồn gốc nông nghiệp: “Cà tơm, tà lênh”; “Kà răng tà nêu”, đặc biệt, chuyện kể “Đàng về” lưu hành phổ biến trong tất cả các nhóm người Chứt, kể lại quê hương xa xưa của họ ở vùng đồng bằng, sau đó bị giặc đánh phải chạy vào rừng sâu, ở hang đá và ăn uống khổ cực như ngày nay. Trong tín ngưỡng, tuy không phong phú, nhưng tất cả các nhóm cùng có những nghi lễ thờ cúng tổ tiên, ma đất, ma bếp, lễ vào mùa, lễ lấp lỗ, lễ cúng cơm mới... khá gần gũi với nghi lễ của cư dân nông nghiệp.
Thanh Hoá vốn là vùng đất màu mỡ, là miền quê non xanh nước biếc, nỗi tiếng với câu ca dao đã lưu truyền bao đời nay:
Thứ nhất Thanh Lạng, Bàu La
Thứ nhì Trung Ải, thứ ba Minh Cầm
Nói về Bàu La có cảnh đẹp nhất là về mùa thu, nước ở đây rất trong như ngọc bích, hội đủ cảnh chim trời cá nước... Ở đây có một câu chuyện truyền thuyết lưu lại cho đến ngày nay. Chuyện tình giữa nàng công chúa Thuỷ cung Kim Dung và chàng trai đốn củi Mã Thành.
Truyện kể rằng: “Từ ngày xửa, ngày xưa khi tiết trời chuyển sang xuân ấm áp, trăm nghìn cây hoa đua nở khoe sắc tươi dưới ánh nắng mặt trời, cảnh Bàu La rộn vang tiếng chim hót. Từ đây có một chiếc thuyền rồng chở nàng Công chúa Kim Dung kiều diễm nỗi lên lênh đênh nhẹ lướt vào bờ. Trong cảnh sắc đẹp nên thơ của Bàu La, nàng Công chúa Kim Dung bỗng gặp được chàng thanh niên đốn củi Mã Thành. Sau một hồi hát đối đáp... Từ đó hai người gặp nhau và yêu nhau tha thiết. Nhưng mối tình của họ không bền chặt vì vua cha ở Thuỷ cung không đồng ý. Vua cha đã sai tướng quân thuồng luồng - hà bá lên bắt công chúa Kim Dung về Thuỷ cung. Mã Thành điên cuồng chạy khắp rừng gào thét...
Lúc này Mã Thành ngất xỉu và chỉ nghe thoang thoảng người yêu dặn lại:
Kiếp này ta lỡ duyên nồng
Hẹn chàng thác xuống đền Rồng gặp nhau.
Sau đó, hàng năm cứ đến tháng tám, tháng chín, Bàu La thường nỗi lên những trận cuồng phong dữ dội. Người đời truyền lại rằng: để ngăn chặn mối tình giữa nàng công chúa Thuỷ cung Kim Dung và chàng trai đốn củi Mã Thành, Vua Thuỷ cung lại sai tướng quân thuồng luồng và quỷ sứ phải làm mưa gió bão. Mặt khác, Vua Thuỷ cung còn ra lệnh canh gác nghiêm ngặt Bàu La, không cho một người trần thế nào dám bén mảng vào bởi ai vào lấy củi hay dạo chơi cũng bắt đi mất tích. Và cũng từ đó vùng đất Bàu La rất thiêng và câu chuyện trên truyền lại từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay.
Thanh Hoá ngày nay còn truyền tụng truyền thuyết về điện thờ làng Thanh Lạng. Theo truyền thuyết này thì điện thờ Thành hoàng làng ở phía tây nam làng Thanh Lạng. Nơi đây thờ Thành hoàng làng Đức Bà và bảy anh em Quận Công. Bảy anh em Quận Công khi sống thì bất hoà, luôn đâm chém nhau. Theo mộng mị, nếu ăn đầu cá vược sẽ được làm vua. Một hôm, bảy anh em bàn nhau phải làm thế nào để bắt dòng Gianh phải chảy vào Bàu La để lập kinh đô. Đào được một thời gian thì nước đã vào được lạch và họ chém được một con cá vược. Ba hôm trước, họ được báo mộng ai chém được cá vược sẽ làm được vua. Bởi thế, một cuộc ẩu đả, tranh giành đầu cá xảy ra, kết cục sáu anh em tàn sát lẫn nhau. Chỉ có người em út bản tính hiền lành không tham gia nên sống sót.
Chàng út cầm thanh gươm mà than rằng: Cha mẹ sinh ra bảy anh em mà chết hết, còn lại ta thì sống làm gì. Nói xong, chàng cầm gươm tự sát.
Sau này dân làng đã xây điện thờ gồm một chính điện và các đền nhỏ. Theo truyền thuyết, khi sống, bảy anh em chém giết nhau nên khi chết, thờ quay lưng lại với nhau. Phía bên ngoài là bãi đường để dân làng làm nơi bày cỗ cúng các vị Thành hoàng làng.
Ngày xưa, ở Thanh Hoá, ngoài đền thờ bảy anh em Quận Công, ở bến Ông Hú còn có miếu thờ bà Chúa Kho; đầu xã Thanh Hoá, phía tây nam có đền thờ Thành hoàng làng và phía tây bắc xã có Di tích Bàu La với cảnh quan đẹp nỗi tiếng thời xưa.
Người dân Thanh Hoá ngày nay còn lưu truyền các truyền thuyết: Hòn đá ngựa, Cao Biền, cây cau trên động Cây Su... Đặc biệt từ rất lâu, nơi đây đã sản sinh ra nhiều lễ hội văn hoá bắt buộc:
- Lễ hội thi mâm cỗ: diễn ra trong ngày mồng một Tết hàng năm. Mục đích của lễ hội nhằm chọn và biểu dương, khen thưởng những người có bàn tay nội trợ khéo léo. Mỗi gia đình làm một mâm cỗ đặt tại điện thờ Thành hoàng để dự thi. Làng cử ra một Ban chấm thi gồm thầy Tổng làm Trưởng ban, thầy Lý làm Phó ban, các thầy Hương làm ban viên để tổ chức chấm thi và công bố khen thưởng tại hội thi.
- Lễ hội làng Khai hạ vào dịp mồng 7 Tết, mục đích là cầu yên, cầu cho mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu và mở của rừng. Lễ vật chỉ có một mâm xôi to và một con gà luộc đem đến cúng Thành hoàng làng. Gạo nếp để làm cỗ xôi được tuyển chọn nghiêm ngặt, hạt không bị sứt mẻ. Người làm mâm cỗ cũng phải tuyển chọn để đảm bảo mâm cỗ sạch sẽ, tinh khiết, để Thành hoàng làng hỗ trợ ăn nên làm ra cho cả làng.
- Lễ hội Tết Đoan ngọ (ngày 05 tháng 5 âm lịch). Đây là lễ hội cầu cho mùa màng bội thu, do ông Từ, ông Giám chủ trì. Mâm cỗ đưa đến cúng ở điện chính, còn mỗi nhà đều có mâm cỗ riêng để cúng tổ tiên, ông bà. - Lễ hội đua thuyền được tổ chức hàng năm, sau khi hoà bình lập lại trên miền Bắc thì tổ chức vào dịp Quốc khánh (ngày 02 tháng 9).
Do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan đem lại, cho đến ngày nay, các lễ hội đó không còn nữa, bây giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức của những người cao niên, dẫu sao các lễ hội đó vẫn thể hiện được nét đẹp văn hoá truyền thống vốn có của cộng đồng dân cư thời xưa ở Thanh Hoá.
Cư dân Thanh Hoá từ Hà Tĩnh vào, từ Quảng Trạch lên, từ các tỉnh khác đến đã cùng nhau chung lưng đấu cật xây dựng làng xóm ngày một trù phú, đông vui. Bởi vậy nên văn hoá và phong tục tập quán có sự giao thoa giữa các vùng miền và mang bản sắc riêng của người dân Thanh Lạng: mộc mạc, đơn sơ nhưng thắm đượm nghĩa tình.
Trong kháng chiến chống Pháp, mặc dầu đời sống của Nhân dân còn gặp nhiều khó khăn nhưng đời sống tinh thần luôn sôi nỗi vui vẻ, phong trào văn hoá văn nghệ luôn được duy trì và phát triển. Các làn diệu dân ca, hát sắc bùa, hát Kiều, hát dặm trong các ngày lễ, Tết được các đội văn nghệ duy trì. Những buổi sinh hoạt thôn, làng, họp các đoàn thể tuy không có sân khấu biểu diễn nhưng tiếng hát của các cụ, các mẹ, các cháu thanh - thiếu niên vẫn vang lên sôi nổi. Đã một thời, nơi đây nỗi tiếng với các vở tuồng về Truyện Kiều, Thoại Khanh - Châu Tuấn và các vở kịch tự biên được các cụ, các mẹ dàn dựng đóng vai Tây, bộ đội, cán bộ... đã để lại cho người xem nhiều ấn tượng tốt đẹp.
Thời kỳ thực hiện chủ trương di dân khai hoang lập làng mới ở Phú Yên vào những năm đầu chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ là dịp minh chứng cho cho những điệu hò của Minh Hoá được cất lên giữa đôi trai gái 2 làng Thanh Lạng và Bắc Sơn:
“Hò lên trao đổi tâm tình
Thương thì hẹn ước có mình có ta”
“Đôi ta chung một câu hò
Cùng nhau xây dựng cơ đồ đẹp tươi”
Câu hò cứ đối đáp bên nam bên nữ, với hai nhóm trai, gái ở hai làng cứ hò mãi thâu đêm. Tiếng cười từ các chàng trai, cô gái vang dội cả một khúc sông, có khi thu hút đến cả những người mẹ, người cha tham gia làm "quân sư" cho các cô gái bằng những câu thơ hay, mang tính thách đố cao để các chàng trai khó lòng đối đáp, đến khi bên nào chịu thua mới chia tay ra về. Trong kháng chiến chống Mỹ, khi cả nước tập trung vào chi viện cho miền Nam, tất cả vì miền Nam thân yêu, quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Với phong trào "Tiếng hát át tiếng bom", văn nghệ ở đây ngày càng sôi nổi. Ban ngày, nam, nữ dân quân tay cuốc, tay cày, vai mang súng, vừa chiến đấu vừa sản xuất; ban đêm lại cất lên điệu hò đối đáp với các đơn vị bộ đội đóng quân bằng những câu hò mộc mạc, giản dị, mang nặng nghĩa tình quân dân. Đặc biệt, các đôi trai gái khi chiến đấu phục vụ chiến đấu sát cánh bên nhau nhưng khi chia tay nhau đọng lại những câu thơ:
“Ra về nhớ thác Đá Nhăng
Nhớ bồi Thanh Lạng, nhớ măng động Rèm”
Thời kỳ kháng chiến, phong trào thơ ca hò vè rất sôi nổi, được Nhân dân, đặc biệt là nam nữ thanh niên hưởng ứng tham gia. Thơ ca hò vè đi vào từng ngõ ngách đời sống của Nhân dân, trong sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu và ngay cả trong việc đi khai thác gỗ trên rừng của các đoàn sơn tràng. Ngoài ra, các điệu hò khoan Lệ Thuỷ, dân ca Bình Trị Thiên, hát ví giặm Nghệ Tĩnh luôn được vang lên trong những đêm trăng ngày mùa, trong các ngày lễ lớn của dân tộc, trong các dịp tiễn chân tân binh lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc...
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công tác truyền thông, tuy phong trào thơ ca hò vè bị mai một nhưng phong trào văn hoá, văn nghệ - thể dục, thể thao luôn được giữ gìn, phát huy. Thanh Hoá luôn là điểm sáng trong phong trào này của huyện nhà.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, những truyền thống tốt đẹp về văn hoá, về mảnh đất, con người Thanh Hoá vẫn được kế thừa và phát triển từ đời này qua đời khác, đặc biệt từ khi có Đảng, truyền thống đó lại càng được nhân lên gấp bội. Đó là những di sản quý giá, những tiền đề quan trọng để cho Đảng bộ và Nhân dân Thanh Hoá vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vươn lên trong công cuộc xây dựng quê hương và góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.